Ai thảo những bộ luật-không-thành-văn của các vị thần?

May 29, 2014 § Leave a comment

Văn học thế giới, Paul Valéry viết, có những nhân vật và những hình tượng kì vĩ đến mức chúng hầu như thoát khỏi sức kiềm tỏa của người sáng tạo ra chúng để “qua một phương thức riêng, có thể trở nên công cụ của một tinh thần phổ quát”. Nhà thơ Pháp viết tiếp, “những hình tượng và những nhân vật ấy vượt qua những gì chúng biểu trưng trong những tác phẩm của những tác giả của chúng […] chúng vĩnh viễn biến thành hiện thân của một số dạng thức tối cực, nhân bản và không nhân bản […], và vì thế, chúng không bị ràng buộc bởi bất kì một chuyến phiêu lưu đặc thù nào”. Valéry viết những dòng này để giải thích cho sự táo bạo của mình khi dám tái dựng nhân vật Faust, nhưng ông cũng nghĩ đến những hình tượng kì vĩ khác – Ulysses, Antigone, Medea, Edipo, Electra, Don Juan – những nhân vật lúc nào cũng có thể đảm nhận những hóa thân mới, và vì thế, bất tử thông qua những biến thể không bao giờ cạn kiệt, mỗi lần có khả năng thể hiện, một cách biểu tượng và như một giải pháp khác đi, ý nghĩa và số phận của nhân loại, những khát vọng và những ý nghĩa phổ quát, không phải qua tính trừu tượng phúng dụ mơ hồ mà qua tính cụ thể lịch sử của một câu chuyện cá biệt. Những nhân vật như thế mang lại ảo tưởng là có một sự tồn tại tự thân, hầu như độc lập với người sáng tạo ra chúng, chính vì vậy mà Miguel de Unamuno đã có thể giả cách phẫn nộ với Cervantes, buộc tội nhà văn đã không hiểu sự vĩ đại của Quixote… « Read the rest of this entry »

Từ phía bên kia: những suy xét về giới tuyến

May 29, 2014 § Leave a comment

Nhà văn Ba Lan, Lec, kể rằng, có lần, ở Pancevo, phía tả ngạn sông Danube, khi ông nhìn sang bờ bên kia và hướng về Belgrade, ông cảm thấy mình vẫn còn ở trên đất nước của mình, vẫn còn ở trên quê nhà của mình, bởi vì, phía bờ bên này, nơi ông đang đứng, có thời từng được đánh dấu là giới tuyến của nhà nước quân chủ Áo-Hung, rằng ông, ngay cả nhiều năm sau sự sụp đổ của nó, vẫn tiếp tục coi bờ bên này là thế giới của ông, trong lúc bờ bên kia là bắt đầu một thế giới khác. Đối với ông, bên kia sông là bắt đầu “cái phần bên kia”. Một nhà văn Ba Lan khác, Andrej Kušniewicz, bình luận trang viết này của Lec và bảo rằng ông hoàn toàn nhận ra tình cảm này trong mình; rằng đối với ông, cái đường biên đã biến mất ấy cũng vạch định cái thế giới của ông. Đối với cả hai, Belgrade là thuộc về phía bên kia. « Read the rest of this entry »

Ithaca và sau nữa

March 4, 2013 Comments Off on Ithaca và sau nữa

Vậy là chúng ta đang đi đâu – Heinrich xứ Ofterdingen, nhân vật chính và cũng là tên quyển thiểu thuyết của Novalis, hỏi bóng hình người nữ bí mật hiện ra bên một vách núi cổ xưa trong một cánh rừng – con đường này sẽ dẫn chúng ta về đâu? “Luôn luôn dẫn về nhà,” cô bé trả lời, trong lúc dắt chàng đến một khoảng rừng rộng và sáng rực. Heinrich xứ Ofterdingen, quyển tiểu thuyết chưa hoàn tất và trường thiên mà chàng thanh niên Novalis viết giữa những năm 1799 và 1800, tại ngưỡng cửa của một cái chết non trẻ năm 1801. Tác phẩm này vẫn là một kiệt tác của văn chương lãng mạn, không chỉ của Đức, mà của cả Châu Âu, một trong những tác phẩm kì vĩ nhất, trong đó thơ ca, một cách biểu tượng, đã tổng hợp thực chất của sự sống và thực chất của nền văn minh. « Read the rest of this entry »

Nghệ thuật và Đại đô thị

March 4, 2013 Comments Off on Nghệ thuật và Đại đô thị

Trong huyền thoại người Do Thái nay đây mai đó, Chúa Giêsu xử phạt Ahasverus – kẻ đã nhạo báng ngài trên núi Sọ khi ngài sắp mất – phải bất tử, phải gánh chịu sự không thể chết, và trong dòng thời gian hổ thẹn vô tận này, trở nên xa lạ với cuộc sống ấm cúng của con người. Huyền thoại này dường như muốn bảo rằng, không phải cái vĩnh viễn, mà là cái thoáng qua, đã mang lại ý nghĩa cho cuộc sinh tồn; không phải những gì trường tồn, như cẩm thạch của bia mộ kia, mà những gì đang tan biến, như một nụ cười hoặc màu âm một giọng nói, đã tạo nên niềm đắm say cho cuộc sống và đáng được yêu thương. Nếu trời cao và nước bể không hư hủy, nhà thơ Hi Lạp ca vang, thực chất của con người chính là cái sớm-nở-tối-tàn. « Read the rest of this entry »

Kitsch và đam mê – Hannah Arendt và Martin Heidegger

November 25, 2012 Comments Off on Kitsch và đam mê – Hannah Arendt và Martin Heidegger

“Em sẽ là người em muốn. Anh sẽ là anh”, Heinrich Blücher viết cho Hannah Arendt trước lúc cưới bà ít lâu để nói với bà rằng cuộc sống chung của hai người sẽ không cản trở sự trưởng thành tự do của bà về nhân cách. Blücher – người chồng thứ hai của Hannah Arendt, một chiến sĩ can trường trong hàng ngũ những người Spartakus, một người hào phóng – là một người bạn chung thủy, song mối quan hệ hứng cảm từ lòng tôn trọng và từ sự bình đẳng này không phải là mối quan hệ đã để lại dấu ấn trong cuộc đời Hannah, bởi vì, có lẽ như Dostoievski viết, đối với chúng ta, chỉ có những kẻ chúng ta yêu là quan trọng, còn những kẻ yêu chúng ta, thì dường như họ không hiện hữu. « Read the rest of this entry »

Nỗi hoang mang của quỷ Mephistopheles

November 2, 2012 § Leave a comment

Ở một trong những đoạn viết cuối cùng và để dở tại ngưỡng cửa của cái chết, Italo Svevo tưởng tượng tới cái lão già – nhân vật chính trong những đoạn kể này, có lẽ là để mở đầu một quyển tiểu thuyết vừa phác thảo được một phần tư – sửa soạn leo lên giường, nơi bà vợ già đang chập chờn trong giấc ngủ uể oải và khó nhọc vốn tóm gọn, dưới ánh mắt của lão và của chính nhà văn, sự nặng nhọc khôi hài thầm kín và đáng hãi của những thói quen trong cuộc sống hôn nhân.

Trong lúc thay áo ngủ, lão già nghĩ lúc này đã vào nửa đêm, thời khắc mà tay quỷ Mephistopheles có thể hiện ra và đề nghị với lão cái hiệp ước cũ kĩ, rồi hắn nghĩ, chắc lão sẽ tự khắc nhượng linh hồn cho hắn mà không biết phải đổi lấy gì: không phải tuổi trẻ, vốn vô nghĩa và khắc nghiệt, cũng chẳng phải tuổi già, vốn quá quắt; không phải sự bất tử, bởi vì cuộc đời không thể chịu nổi, nhưng dù sao, những điều này chẳng khiến lão dịu bớt nỗi khắc khoải sợ hãi trước cái chết. « Read the rest of this entry »

Vì một lịch sử nụ cười

March 20, 2012 Comments Off on Vì một lịch sử nụ cười

Leopardi nhiều lần đề cập một dự án viết về lịch sử nụ cười, truy cứu nguồn gốc và tính chất của điều mà ông gọi là “năng lực”, qua đó ông nhận ra một tín hiệu cơ bản của con người và phẩm giá của họ, cái tính năng, có lẽ duy nhất, để phân biệt con người với các sinh vật khác. Nỗi đau là một sự hiện diện phổ quát, người cổ đại thậm chí nghe ra tiếng than van từ những vật thể, mờ đục và có vẻ trung tính, nhưng ngay cả sự vật cũng phải tiến tới sự hủy diệt và sự lãng quên, Virgilio nói: Sunt lacrymae rerum, sự vật cũng có nước mắt của chúng. Thiên nhiên biết khóc; thú vật đau đớn nhưng không biết cười, bởi vì, để sợ hãi trước cái chết, để chịu đựng một sự đau đớn thân thể, hoặc thậm chí một nỗi buồn tình cảm (cô đơn, lạc loài), thì không cần phải có cái khả năng suy ngẫm về chính mình; trái lại, để có thể cười, thì phải cần đến sự suy ngẫm, cái nhìn xuất phát từ trên cao và từ bên ngoài, ngay cả đối với chính mình. Leopardi thấy người nguyên thủy – gần sinh vật hơn là gần người – u sầu và không ý thức về nghệ thuật cười, điều mà theo ông, chỉ đạt tới sau đó qua một sự trưởng thành tâm linh chan hòa. Trong bài dụ ngôn trữ tình “Elogio degli uccelli / Ngợi ca loài chim”, qua một tính cách thanh thoát siêu trần, Leopardi hợp nhất nụ cười với tiếng hót và sự bay lượn, nụ cười chiêm nghiệm thế giới từ trên cao và từ đằng xa, ban phát một niềm hoan lạc cốt yếu, làm “chứng nhân, dù giả cách, cho niềm vui sướng của sự vật”. « Read the rest of this entry »